Trong chương trình nghiên cứu đa dạng sinh học của vùng núi đá vôi Kiên Lương – Hà Tiên tỉnh Kiên Giang, các chuyên gia của Trung tâm Đa dạng Sinh học và Phát triển (CBD), Viện Sinh học Nhiệt đới (ITB) thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VAST) cùng với các chuyên gia của Vườn Thực Vật Edinburgh (Scotland) đã phát hiện và công bố một loài thực vật Ornithoboea mới cho khoa học, đó là loài Ornithoboea emarginata D.J. Middleton & N.S. Ly. (O. emarginata).

 

 

 

 

 

 

Chi Ornithoboea được mô tả lần đầu tiên bởi Parish (1883) và được Burtt xem xét lại lần cuối vào năm 1958. Chi này gồm có 10 loài và một trong số đó là loài Ornithoboealeptonema B.L.Burtt. đã được Burtt mô tả ở miền Bắc Việt Nam. Cũng theo Burtt (1958) thì mẫu vật mô tả loài Ornithoboea parishii C.B.Clarke từ Việt Nam của Pellegrin (1930) cũng có thể là loài Ornithoboealeptonema B.L.Burtt. Từ mô tả của Burtt (1958), hơn ba loài của chi này đã được mô tả (Li, 1983; Burtt, 2001) nhưng không có loài nào trong số đó là có ở Việt Nam.

Loài thực vật mới này rất giống với loài Ornithoboea lacei Craib ở Myanmar vì nó cùng có đặc điểm các đầu thùy tràng hoa lõm. Tuy nhiên, loài này khác với loài Ornithoboea lacei vì thiếu sự tồn tại của các lá rất ngắn ở gốc lúc trưởng thành, mép lá răng không đều hơn nhiều, có nhiều lông trên bao phấn và quả ngắn hơn. Loài này cũng khác với loài Ornithoboea wildeneana Craib ở mép lá, thùy tràng hoa lõm và quả ngắn hơn.

Phân bố: Loài Ornithoboea emarginata được tìm thấy ở khu vực núi đá vôi thuộc huyện Kiên Lương thuộc tỉnh Kiên Giang. Đây là những khối núi đá vôi lộ thiên duy nhất ở phía Nam Việt Nam.Ornithoboea emarginata là loài đặc hữu hẹp của núi Hang Cá Sấu, cách Hòn Chông khoảng 3 km về hướng Tây Tây Bắc, thuộc tỉnh Kiên Giang, Tây Nam Việt Nam. Loài này còn được tìm thấy ở các núi đá vôi lân cận như: Bà Tài, Hang Tiền, Mo So.

Sinh thái: Ornithoboea emarginata là loài cây chịu bóng, mọc từng bụi rãi rác trên các khe nứt hay các hộc đất nhỏ trên các vách đứng ở cửa hang của núi đá vôi từ độ cao 10 đến 70 m so với mực nước biển. Số lượng quần thể cũng như số lượng cá thể trong quần thể của loài này tìm thấy trên các núi đá vôi ở ở Kiên Giang là rất ít. Các hoạt động khai thác tài nguyên đá vôi ở đây đang đe dọa nghiêm trọng đến sự tồn tại loài thực vật đặc hữu này.

Việc nghiên cứu các đặc điểm sinh thái của loài thực vật này cũng như nghiên cứu tính đa dạng sinh học tổng thể trên vùng núi đá vôi ở Kiên Giang vẫn đang được CBD tiếp tục nhằm xác lập các cơ sở khoa học để giúp các cơ quan chức năng xây dựng các kế hoạch bảo tồn và sử dụng một cách bền vững hệ sinh thái độc đáo ở vùng  Tây Nam Việt Nam.
 

                                                                                Lý Ngọc Sâm

 

Tổ chức cộng tác
  • Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
  • Chương trình trao đổi Lâm sản ngoài gỗ Việt Nam
  • Viện Khoa học Vật liệu Ứng dụng
Giới thiệu theo yêu cầu
  • Hành động vì môi trường
  • Bảo vệ động vật hoang dã
  • Tổ chức vì môi trường thế giới