Chi Cào cào - Burmannia L. là một chi thực vật hạt kín thuộc họ Burmanniaceae, chúng chứa cả loài sinh trưởng bằng hình thức quang hợp và cả hình thức dị dưỡng. Chi này được Linnaeus mô tả lần đầu tiên vào năm 1753 trong tài liệu Species Plantarum.

Hiện tại đã ghi nhận được 59 loài thuộc chi Burmannia  trên toàn thế giới (dữ liệu từ KEW [1]). Trong đó có 15 loài đã ghi nhận được ở Việt Nam. Với 9 loài: B. cochinchinensis Gagnep., B. coelestis D.Don, B. disticha L., B. luteoalba Gagnep., B. nepalensis (Miers) Hook.f., B. oblonga Ridl., B. pusilla (Miers) Thwaites, B. subcoelestis Gagnep. và B. wallichii (Miers) Hook.f.  được liệt kê trong tài liệu Cây cỏ Việt Nam – quyển III của Phạm Hoàng Hộ năm 2000 [2]. Cũng trong thời gian này, Zhang & Saunders 2000 đã ghi nhận thêm loài thứ 10 - B. chinensis Gandoger tại miền Bắc Việt Nam dựa trên mẫu vật mang số hiệu 218 thu thập bởi Bois, DGJM (Hình1[3]. Sau đó vào năm 2005, ông Averyanov đã phát hiện và công bố thêm 2 loài mới cho chi này tại vùng núi đá vôi ở tỉnh Hà Giang và Tuyên Quang, loài thứ 11 và 12 này được đặt tên là B. coerulea Aver. và B. unguiculata Aver [4]. 10 năm sau đó, vào năm 2015 Đặng Văn Sơn và nnk. đã công bố việc ghi nhận loài thứ 13 - B. championii Thwaites tại Vườn quốc gia Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang [5]. Kế đến vào năm 2018, loài thứ 14 - B. lutescens Becc. được Maxim S. Nuraliev công bố ghi nhận tại huyện Kon Plong, tỉnh Kon Tum [6].

Hình 1. Mẫu vật Bois218 của loài B. chinensis được Bois thu thập vào năm 1902 tại miền Bắc Việt Nam (https://data.biodiversitydata.nl/naturalis/specimen/U.1173081)

Gần đây nhất, vào tháng 4/2022, Nuraliev & nnk. đã công bố việc ghi nhận thêm loài cào cào thứ 15 – B. itoana Makino cho Hệ thực vật Việt Nam tại Khu bảo tồn Thiên nhiên Tà Xùa, tỉnh Sơn La và Khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh, tỉnh Quảng Nam [7]. Loài này được mô tả đầu tiên bởi Makino vào năm 1913 trong tạp chí Bot. Mag. (Tokyo) 27: 1. Trước đó, loài này mới chỉ ghi nhận sự phân bố tại hai quốc gia là Nhật Bản và Trung Quốc.

Vị trí ghi nhận các loài Burmannia championii, B. coerulea, B. lutescens, B. itoana, và B. unguiculata được thể hiện ở Hình 2:

Hình 2: Vị trí ghi nhận một số loài Burmannia spp. từ năm 2005 trở lại đây.

Thông tin mô tả loài chi tiết, cũng như khoá phân loại hỗ trợ nhận diện 15 loài thuộc chi Burmannia này tại Việt Nam được Nuraliev & nnk. công bố trên tạp chí Phytotaxa 544(1), ngày 27-04-2022 với tiêu đề: A checklist of Burmanniaceae in Eastern Indochina with a new record from Vietnam, Burmannia itoana. DOI: https://doi.org/10.11646/phytotaxa.544.1.5

Tài liệu tham khảo

1. https://wcvp.science.kew.org/taxon/5066-1

2. Phạm Hoàng Hộ (2000). Cây cỏ Việt Nam. Quyển. 3. NXB Trẻ, Tp. HCM, 1020 pp.

3. Zhang, D. & Saunders, R. M. K. (2000) Systematics of the Burmannia coelestis complex (Burmanniaceae). Nordic Journal of Botany 20 (4): 385 - 394.

4. Averyanov, L.V. (2005) Two new species of Burmanniaceae – Burmannia coerulea and B. unguiculata from limestone mountains of the northern Viet Nam. VNU Journal of Science: Natural Sciences and Technologies 21 (3): 49–53.

5. Dang, S., S. Tagane, H. Toyama, T. Yahara, A. Naiki, N. Quan and T. Hop (2015). "A new record of Burmannia championii Thwaites (Burmanniaceae) from southern Vietnam." Journal of Biotechnology 13: 1393-1396.

6. Nuraliev, M., D. Zhang, A. Kuznetsov and S. Kuznetsova (2018). "Two new records of non-photosynthetic Burmannia species (Burmanniaceae) from Laos and Vietnam." Wulfenia 25: 52–56.

7. NURALIEV, M. S., S. V. YUDINA, B. V. TRUONG, V. S. DANG, Y. O. KOPYLOV-GUSKOV, D. F. LYSKOV, A. N. KUZNETSOV, S. P. KUZNETSOVA and D. ZHANG (2022). "A checklist of Burmanniaceae in Eastern Indochina with a new record from Vietnam, Burmannia itoana." Phytotaxa 544(1): 61-70.

Xuân Bách / SIE

Tổ chức cộng tác
  • Viện Khoa học Vật liệu Ứng dụng
  • Chương trình trao đổi Lâm sản ngoài gỗ Việt Nam
  • Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Giới thiệu theo yêu cầu
  • Bảo vệ động vật hoang dã
  • Tổ chức vì môi trường thế giới
  • Hành động vì môi trường