Cho đến nay, Việt Nam là một trong những nước có khu hệ chim giàu có nhất lục địa Đông Nam Á với hơn 850 loài chim đã được ghi nhận, chiếm khoảng 9% tổng số loài chim trên toàn thế giới. Việt Nam đồng thời cũng là một trong những nước có số loài chim quan trọng cao với 81 loài có tầm quan trọng. Đặc biệt, Tổ chức bảo tồn chim quốc tế Birdlife International đã đặt Việt Nam là một trong những nước hàng đầu thế giới về mức độ đa dạng sinh học và số lượng các loài chim bị đe dọa. Việt Nam cũng là nước có số lượng về các loài chim đặc hữu lớn nhất tại khu vực Đông Nam Á với 11 loài chim đặc hữu.

Với tổng diện tích 64.800 ha, phần lớn nằm trọn trong lãnh thổ huyện Lạc Dương, một phần nhỏ thuộc huyện Đam Rong, tỉnh Lâm Đồng, Vườn Quốc Gia (VQG) Bidoup - Núi Bà nằm trong vùng chim đặc hữu cao nguyên Đà Lạt, là VQG duy nhất ở Việt Nam có ba vùng chim quan trọng tầm quốc gia và quốc tế là Cổng Trời, Bidoup và Núi Bà. VQG Bidoup-Núi Bà còn là nơi phân bố của nhiều loài, phân loài chim đặc hữu của cao nguyên Đà Lạt, là một nơi lý tưởng để xem chim. Chỉ riêng vùng chim quan trọng Bidoup, là nơi cư trú của bảy trong số tám loài chim có vùng phân bố hẹp được xác định cho vùng chim đặc hữu cao nguyên Đà Lạt. Đáng chú ý nhất, vùng chim quan trọng Bidoup là nơi phân bố của loài đang nguy cấp trên toàn cầu là Khướu đầu đen má xám Garrulax yersini. Trên phạm vi toàn cầu, Khướu đầu đen má xám có vùng phân bố giới hạn trong phạm vi rừng núi cao của Cao nguyên Đà Lạt.

Lịch sử nghiên cứu về khu hệ chim của cao nguyên Đà Lạt nói chung và VQG Bidoup – Núi Bà nói riêng đã được tiến hành rất sớm, khoảng gần 100 năm trước. Robinson và Kloss (1919) đã mô tả một số loài ở khu vực này như loài Khướu hông đỏ Cutia legalleni và Khướu đầu đen Garrulax miletti. Năm 1938, Bertil Björkegren, nhà sưu tập chim người Thụy Điển, đã tiến hành thu mẫu chim tại khu vực này, trong bộ siêu tập này, ông đã mô tả một giống và loài mới, đó là loài Mi Langbian Crocias langbianis. Từ đầu những năm 1940, do những biến động về chính trị và chiến tranh, nghiên cứu chim ở khu vực cao nguyên Đà Lạt bị ngừng lại trong một thời gian dài. Đến những năm 90 của thế kỷ XX, việc nghiên cứu về chim khu vực này được khôi phục trở lại nhờ hoạt động của các nhà điểu học người Anh. Từ năm 1993 đến năm 1994, khảo sát của Tổ chức Bảo tồn chim quốc tế Birdlife International về các loài chim đặc hữu của vùng cao nguyên Đà Lạt đã ghi nhận thêm 64 loài tại các địa điểm núi Bidoup, Gia Rích, Núi Bà và Cổng Trời. Khảo sát của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật năm 2003 ở khu vực núi Bidoup đã ghi nhận 160 loài. Năm 2002 và 2009, Trung tâm Nhiệt đới Việt Nga thực hiện khảo sát tại các khu vực trạm kiểm lâm Giang Ly và núi Bidoup đã ghi nhận được 135 loài. Gần đây nhất, là kết quả khảo sát của Trung tâm Đa dạng sinh học và phát triển (CBD) thuộc Viện Sinh học nhiệt đới từ tháng 11 năm 2009 đến tháng 03/2012 đã ghi nhận được 106 loài thuộc 41 họ và 12 bộ. Trong đó, bổ sung một loài mới cho khu hệ chim Việt Nam là loài Quạ nhà Corvus splendens.

Với 268 loài chim đã được ghi nhận, trong đó có các loài chim quý hiếm nằm trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) và Danh lục các loài bị đe doạ của IUCN (2013) và đặc hữu như Trĩ sao Rheinardia ocellata, Gà lôi vằn Lophura nycthemera annamensis, Mi Langbian Crocias langbianis, Khướu đầu đen má xám Garrulax yersini, Sẻ thông họng vàng Carduelis monguillot, Trèo cây mỏ vàng Sitta solangiae, Khướu mỏ dài Jabouilleia danjoui, Khướu mỏ dẹt đầu đen Psittiparus margaritae, Bồng chanh rừng Alcedo hercules và Khướu lưng đỏ Cutia legalleni. VQG Bi Doup-Núi Bà là đại diện cho một vùng có khu hệ chim độc đáo nhất của cao nguyên Đà Lạt, là một trong những trung tâm đa dạng về chim của Việt Nam và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng cho việc bảo tồn các loài chim quý hiếm.

Dưới đây là hình ảnh và thông tin một số loài chim quan trọng bao gồm những loài chim quý hiếm, đặc hữu cần ưu tiên bảo tồn có phân bố ở VQG Bidoup - Núi Bà.

Trèo cây mỏ vàng - Yellow-belled Nuthatch - Sitta solangiae (Delacour & Jabouile, 1930)

Tình trạng: IUCN: NT (Gần nguy cấp), Sách đỏ Việt Nam: LR (Ít nguy cấp)

Phân bố: Sinh sống định cư ở rừng lá rộng thường xanh, thường gặp ở độ cao 900-2500 m. Tại Việt Nam, loài này được ghi nhận tại các vùng: Tây Bắc, Đông Bắc, Bắc Trung Bộ và Tây Nguyên. Ở VQG Bidoup-Núi Bà, có thể gặp tại khu vực núi Bidoup, Cổng Trời, Hòn Giao và núi Gia Rích.

Trèo cây mỏ vàng - Yellow-belled Nuthatch.

Photo: Lê Duy/SIE

Mi Langbian- Grey-crowned Crocias - Crocias langbianis (Gyldenstolpe, 1939)

Tình trạng: Loài đặc hữu của Việt Nam. IUCN: EN (Nguy cấp), Sách đỏ Việt Nam: EN (Nguy cấp)

Phân bố: Tại Việt Nam, loài này phân bố ở Lâm Đồng (Lang Bian, Đà Lạt,Tà Nung, Di Linh và VQG Bidoup-Núi Bà), Đắk Lắk (VQG Chư Yang Sin), sinh cảnh sinh sống chủ yếu là rừng lá rộng thường xanh, phân bố ở độ cao 850-1,500 m. Ở VQG Bidoup-Núi Bà, loài này được tìm thấy tại khu vực Cổng Trời.

Mi Langbiang - Grey-crowned Crocias.

Photo: Nguyễn Hoài Bão

Khướu mỏ dẹt đầu đen - Black-crowned Parrotbill - Psittiparus margaritae (Rosbson, 2007)

Tình trạng: Loài đặc hữu của Việt Nam và Campuchia.

Phân bố: Loài sống Định cư tại NamTrung Bộ và khu vực Tây nguyên. Tại Lâm Đồng, loài này được nghi nhận ở Tà Nung, Tuyền Lâm, Đà lạt với sinh cảnh sống chủ yếu là rừng lá rộng thường xanh, rừng thứ sinh, phân bố ở độ cao 850-1,500 m. Ở VQG Bidoup-Núi Bà, có thể gặp loài này ở khu vực núi Bidoup, Gia Rích và Hòn Giao.

Khướu mỏ dẹt đầu đen - Black-crowned Parrotbill.

Photo: Lê Duy/SIE

Khướu đầu đen - Black-hooded Laughingthrush - Garrulax milleti (Robinson & Kloss, 1919)

Tình trạng: Loài đặc hữu của Đông Dương. IUCN: NT, Sách đỏ Việt Nam: LR  

Phân bố: Loài sống định cư ở kiểu rừng lá rộng thường xanh trên núi cao, rừng thường xanh hỗn giao cây lá kim, phân bố từ độ cao khoảng 800-1700 m. Tại Việt Nam, đã ghi nhận ở các tỉnh: Quảng Nam, Kom Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Lâm Đồng. Tại VQG Bidoup-Núi Bà, có thể bắt gặp loài này tại khu vực Cổng Trời, núi Gia Rích và Hòn Giao.

Khướu đầu đen - Black-hooded Laughingthrush.

Photo: Lê Duy/SIE

Khướu đầu đen má xám - Collared Laughingthrush - Trochalopteron yersini (Robison & Kloss, 1919).

Tình trạng: Loài đặc hữu của Việt Nam. Danh lục các loài bị đe doạ của Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên thế giới: EN (IUCN, 2013). Sách đỏ Việt Nam: EN (SĐVN, 2007).

Phân bố: Đây là loài định cư tại khu vực Nam Trung Bộ, đã có các ghi nhận tại VQG Chư Yang Sin, VQG Bidoup Núi Bà. Sinh cảnh sống chủ yếu là rừng lá rộng thường xanh, rừng thứ sinh, phân bố ở độ cao 1,500-2,440 m. Tại VQG Bidoup-Núi Bà, loài này có thể bắt gặp tại khu vực núi Bidoup, Gia Rích, Long Lanh và Giang Ly.

Khướu đầu đen má xám - Collared Laughingthrush.

Photo: Trần Xuân Quang/SIE

Khướu đầu xám - White-cheeked Laughingthrush - Garrulax vassali (Oglive-Grant, 1906)

Tình trạng: Loài đặc hữu Đông Dương

Phân bố: Loài định cư, phổ biến tại Trung và Nam Trung Bộ, đã ghi nhận tại VQG Chư Yang Sin (Đắk Lắk), khu vực Đà Lạt, VQG Bidoup-Núi Bà (Lâm Đồng). Sinh cảnh sống chủ yếu là rừng lá rộng thường xanh, rừng thứ sinh, phân bố ở độ cao 650-1,900 m. Tại VQG Bidoup-Núi Bà, loài này có thể bắt gặp ở khu vực núi Bidoup, Gia Rích, Cổng trời, Hòn Giao và Giang Ly.

Khướu đầu xám - White-cheeked Laughingthrush.

Photo: Lê Duy/SIE

Khướu lưng đỏ - Vietnamese Cutia - Cutia legalleni (Robison & Kloss, 1919)

Tình trạng: Loài đặc hữu của Việt Nam và Lào. Trước đây được xếp chung một loài là Cutia nipalensis, đến năm 2007 được Collar và Robson tách ra làm hai loài riêng biệt. Danh lục các loài bị đe doạ của Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên thế giới: NT.

Phân bố: Tại Việt Nam, loài này sống định cư tại Trung và Nam Trung Bộ (VQG Chư Yang Sin, khu vực Đà Lạt, VQG Bidoup-Núi Bà). Sinh cảnh sống: Rừng lá rộng thường xanh, rừng hỗn giao lá rộng thường xanh và rừng thông, phân bố ở độ cao 1,200-2,100 m. Ở VQG Bidoup-Núi Bà, có thể gặp loài này tại Giang Ly, Long Lanh, Hòn Giao và Cổng Trời.

Khướu lưng đỏ - Vietnamese Cutia.

Photo: Lê Duy/SIE

Sẻ thông họng vàng - Vietnamese Greenfinch - Chloris monguilloti (Delacour, 1926)

Tình trạng: Loài đặc hữu của Việt Nam. Danh lục các loài bị đe doạ của Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên thế giới: LC (IUCN, 2013). Sách đỏ Việt Nam: LR (SĐVN, 2007).

Phân bố: Chỉ phân bố ở vùng núi cao thuộc tỉnh Lâm Đồng (Khu vực Đà Lạt, Tà Nung, Di Linh, Langbian, Tuyền Lâm và VQG Bidoup-Núi Bà), thường gặp ở rừng thông, rừng thứ sinh, phân bố ở độ cao 1,000-1,900 m. Tại VQG Bidoup-Núi Bà, có thể gặp loài này tại khu vực Cổng Trời, núi Bidoup, Long Lanh.

Sẻ thông họng vàng - Vietnamese Greenfinch.

Photo: Hoàng Minh Đức/SIE

Lê Duy - Viện Sinh thái học Miền Nam

 

 

 

Tổ chức cộng tác
  • Chương trình trao đổi Lâm sản ngoài gỗ Việt Nam
  • Viện Khoa học Vật liệu Ứng dụng
  • Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Giới thiệu theo yêu cầu
  • Hành động vì môi trường
  • Bảo vệ động vật hoang dã
  • Tổ chức vì môi trường thế giới