Trong cuộc sống của con người mà nói thì rêu có thể được xem như là kẻ thù của các công trình xây dựng và người ta thường tìm cách tiêu diệt rêu, mốc ra khỏi các công trình nói trên. Tuy nhiên, trong tự nhiên, rêu giúp giữ ẩm cho đất và là đối tượng được nhiều nhà khoa học nghiên cứu nhằm theo dõi sự biến đổi của môi trường, khí hậu cho rêu rất nhạy cảm với sự thay đổi của môi trường. Cho đến thời điểm hiện nay, nhóm Rêu ít được biết đến trong các nghiên cứu về Đa dạng sinh học ở Việt Nam. Theo nhiều nhà nghiên cứu trước đây, Việt Nam có khoảng 719 loài rêu, 213 chi, 59 họ trong đó có 103 loài đặc hữu. Tuy nhiên kết quả này chủ yếu được tổng hợp từ các nghiên cứu cách đây rất lâu, thực tế số loài rêu ở Việt Nam còn nhiều hơn nữa.

Năm2014, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ: “Xây dựng Cơ sở dữ liệu Đa dạng sinh học rừng tỉnh Khánh Hòa”, nhóm nghiên cứu thực vật của Viện Sinh thái học Miền Nam (SIE) đã phát hiện một loài rêu lạ trong tổng số 79 loài rêu được ghi nhận cho tỉnh với các đặc điểm hình thái rất khác biệt ở độ cao 850 m tại sinh cảnh rừng thường xanh thuộc khu vực Sơn Thái (huyện Khánh Vĩnh). Kết quả giám định mẫu vật cho thấy loài này có tên khoa học là Macromitrium tosae Besch., thuộc họ Orthotrichaceae. Đây là lần đầu tiên ghi nhận sự hiện diện của loài rêu này tại Việt Nam và khu vực Đông Dương; đến nay đã có 24 loài rêu thuộc chi Macromitrium được ghi nhận tại Việt Nam. (Mẫu vật hiện đang được lưu trữ tại bộ sưu tập Bryophytes thuộc Bảo tàng thực vật SGN).

Theo tiếng Hy Lạp, “macro” nghĩa là "to", “mitre” nghĩa là cái "nón", Chi “Macromitrium” được đặt tên dựa trên đặc điểm thể bào tử của chi này có đỉnh như một cái nón to.

Loài rêu này đã được mô tả và công bố vào năm 1898 bởi Émile Bescherelle. Nhà khoa học người Pháp này đã phát hiện ra chúng ở đảo Shikoku, Nhật Bản. (J. Bot. (Morot) 12: 299 1898).

Macromitrium tosae Besch: Khi còn tươi. (Đinh Nhật Lâm/SIE)

Macromitrium tosae Besch. co xoắn lại khi khô (Đinh Nhật Lâm/SIE).

Đặc điểm hình thái: Rêu có kích thước vừa, thân màu xanh hơi vàng phía trên, phía dưới hơi nâu. Thân phân nhánh, nhánh thẳng dài khoảng 5 - 10 mm. Có 2 dạng lá: Lá trên thân chính thường màu vàng, duỗi thẳng khi khô, lá hình trứng thuôn dài; lá trên nhánh thường có xoắn lại áp sát vào thân khi khô. Đỉnh lá nhọn, gân lá đơn thường có màu vàng nâu. Tế bào đáy là hình chữ nhật thuôn dài, không màu, thường có một mũ lồi to rõ ràng; các tế bào giữa lá tương tự nhau hình tròn - vuông, có 1-4 núm. Tử nang thể chưa ghi nhận được.

Đặc điểm sinh thái: Khu vực Sơn Thái thuộc sinh cảnh SA3 - vùng sinh thái Nam Trường Sơn là dạng chuyển tiếp từ cao nguyên Langbian xuống vùng đồng bằng ở phía Đông. Do đó, địa hình của các khu vực thuộc sinh cảnh này thường cao, nhiệt độ thấp, độ ẩm khá cao, nhiều sương mù rất phù hợp cho sự phát triển của nhóm thực vật bậc thấp. Đây là nơi ghi nhận được nhiều loài rêu so với các địa điểm khác trong tỉnh Khánh Hòa, với đặc trưng là kiểu rừng rêu ở Hòn Giao.

Nhật Lâm-Trần Giỏi

Tổ chức cộng tác
  • Bảo tàng nhiệt đới
  • Viện sinh học nhiệt đới
  • Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
  • Chương trình hợp tác Lâm sản ngoài gỗ Đông Nam Á
Giới thiệu theo yêu cầu
  • Hành động vì môi trường
  • Tổ chức vì môi trường thế giới
  • Bảo vệ động vật hoang dã
  • Bảo vệ động vật hoang dã
Phim
Allo-mothering
Forum
Updating...