Vườn quốc gia Bidoup Núi Bà, Thành phố Đà Lạt, Tỉnh Lâm Đồng, Việt Nam
23-24 tháng 5 năm 2011

THÔNG TIN CHUNG

Mục tiêu của Hội thảo nhằm đưa ra (1) Các vấn đề, thực tiễn quản lý và chính sách liên quan đến bảo vệ rừng đầu nguồn và dòng sông; (2) Thúc đẩy một cuộc thảo luận mở về bảo tồn rừng đầu nguồn và các dòng sông tại Việt Nam, các bài học kinh nghiệm quốc tế, quốc gia và địa phương; (3) Đề xuất các giải pháp và sáng kiến để bảo vệ và quản lý các lưu vực sông, rừng đầu nguồn, trong đó quan tâm đến các tác động của Biến đổi khí hậu.

Ngoài ra, Hội thảo cũng nhắm đến việc thu hút sự chú ý và nâng cao nhận thức của cộng đồng có liên quan về bảo tồn và quản lý các dòng sông và rừng đầu nguồn, xác định vai trò của các bên liên quan và tạo ra sự liên kết giữa các bên cho các hành động trong tương lai.

Hội thảo được phối hợp tổ chức bởi Trung tâm Đa dạng Sinh học và Phát triển (CBD) thuộc Viện Sinh học Nhiệt đới (ITB) Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VAST), Viện Nghiên cứu Nông nghiệp và Môi trường Nauy (BIOFORSK), Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới tại Việt Nam (IUCN Việt Nam), Mạng lưới Sông ngòi Việt Nam (VRN)  và Vườn quốc gia Bidoup-Núi Bà.

Hội thảo đã quy tụ hơn 90 đại biểu của các tổ chức quốc tế, trong nước và địa phương, các cơ quan ban ngành của tỉnh Lâm Đồng, các trường đại học trong và ngoài nước cùng với các cơ quan truyền thông, báo chí và đài truyền hình.

Bản tóm tắt các thông điệp và nội dung chính các bài trình bày và thảo luận của hội thảo này được Ban tổ chức hội thảo thực hiện để chuyển đến các đại biểu cũng như các cá nhân, tổ chức quan tâm.

Các Đại biểu tại Hội thảo

THÔNG ĐIỆP CHUNG

Các vấn đề về môi trường tự nhiên: Một thông điệp chính xuyên suốt trong phần lớn các bài trình bày là vấn đề thay đổi rừng đầu nguồn trong những thập niên vừa qua đã dẫn đến sự suy giảm nghiêm trọng đa dạng sinh học (ĐDSH), gia tăng ô nhiễm và suy giảm số lượng và chất lượng nước ở quy mô vùng và địa phương.

TS. Lê Tuấn Anh- Trường Đại học Cần Thơ trình bày về “Tài nguyên nước và Biến đổi Khí hậu: Thách thức trong việc quản lý tổng hợp nguồn tài nguyên nước tại Việt Nam”

Các vấn đề về môi trường xã hội: Nội dung quan trọng trong các bài trình bày là những thay đổi về rừng đầu nguồn thường dẫn đến những mất mát đối với cộng đồng địa phương. Các cộng đồng này mất đất sản xuất nông nghiệp, thay đổi cấu trúc xã hội, văn hoá bản địa bị suy thoái, sức khoẻ bị ảnh hưởng do thiếu nước, đặc biệt là nước sạch, nguồn tài nguyên, thực phẩm liên quan đến sông suối bị suy giảm nghiêm trọng.

TS. Nils Vagstad- Giám đốc Nghiên cứu của Bioforsk trình bày về “Quản lý Tổng hợp Tài nguyên nước: Nhu cầu, Hạn chế và Cơ hội”

Các vấn đề thể chế/chính sách: Một vấn đề nổi bật trong các bài trình bày là cách tiếp cận quản lý tổng hợp thực sự cần thiết cho việc bảo vệ rừng đầu nguồn và quản lý lưu vực sông ở Việt Nam. Trong khi có khá nhiều chính sách của chính phủ liên quan đến những vấn đề nêu trên, nhưng những chính sách này lại ít khi đề cập đến nhiều vấn đề mà thường mỗi chính sách chỉ quan tâm đến việc giải quyết một vấn đề chuyên biệt như phát triển nguồn năng lượng, kiểm soát ô nhiễm môi trường, làm việc với các cộng đồng bị ảnh hưởng bởi các dự án phát triển hoặc bảo vệ đa dạng sinh học. Nguyên nhân là các bộ ngành, các nhà khoa học, những người làm công tác xã hội hoặc các thành phần liên quan khác có thể không theo đuổi các hoạt động cần có sự phối hợp và liên kết với nhau. Những cách tiếp cận truyền thống về phát triển, về các điều kiện xã hội và bảo tồn không thể đáp ứng được các nhu cầu có tính thời sự này.

Ông Graeme Swift- Tổng Lãnh sự quán Úc-TpHCM phát biểu tại Hội thảo

NHỮNG THÔNG ĐIỆP CỤ THỂ

Do thời gian không cho phép nhìn lại toàn bộ các nội dung trình bày, chúng tôi liệt kê ở đây một số vấn đề trọng tâm đã được thảo luận trong hội thảo.

Các vấn đề về môi trường tự nhiên

Ngân hàng hạt trong đất đóng vai trò hết sức quan trọng cho việc phục hồi thảm thực vật, duy trì sức khoẻ của cũng như trong việc mở rộng các diện tích rừng tự nhiên.

Nghiên cứu về Ngân hàng hạt trong đất ở thượng lưu sông Mê Kong thuộc tỉnh Vân Nam, Trung Quốc cho thấy trong khi rừng trồng có Ngân hàng hạt trong đất lớn nhất, sự đa dạng về hạt cây rừng rất hạn chế và số loài xâm hại hoặc ngoại lai tăng cao, đặc biệt là các loài thân thảo. Điều này cho thấy không những chúng ta mất mát nhiều về ĐDSH mà còn dẫn đến những khó khăn thử thách lớn cho quá trình phục hồi rừng. Cần thiết phải có một chính sách phù hợp: các lâm trường trồng duy nhất một loài cây như cao su hay bưởi không thể được xem như một thảm thực vật rừng khoẻ, mà ngược lại chúng gây ra mất mát lớn về ĐDSH cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho các loài xâm hại.

Thảo luận nhóm về vấn đề Môi trường Tự nhiên

Các tác động bất lợi đến môi trường tự nhiên của hệ thống đập thuỷ điện cũng được đề cập rất cụ thể. Việc xây dựng đập thủy điện thường đi kèm với việc mất một diện tích rất lớn rừng và đất nông nghiệp. Việc vận hành các đập thuỷ điện đã làm thay đổi dòng chảy, nhiệt độ nước qua hệ thống máy phát gây ảnh hưởng cho một số loài và làm suy giảm ĐDSH.

Trong những năm vừa qua, đã có một sự suy giảm đáng kể chất lượng nước của hệ thống sông Đồng Nai, mức độ ô nhiễm cao hơn từ 1-5 lần tiêu chuẩn quốc gia. Điều này tạo ra không những một loạt các vấn đề về sức khoẻ của con người mà còn gây suy giảm ĐDSH trong hệ thống sông ngòi. Cũng cần lưu ý rằng sự khác biệt về kết quả phân tích chất lượng nước giữa cơ quan của chính phủ Cam Pu Chia và các nhà đánh giá độc lập đưa đến vấn đề là tầm quan trọng của sự minh bạch trong việc thu thập và phân tích số liệu nhằm đảm bảo các thành phần liên quan có thể đánh giá được chất lượng của một nghiên cứu và xem xét có cần thực hiện các nghiên cứu bổ sung hay không.

Các vấn đề về môi trường xã hội

Phần lớn các thuyết trình viên đều cho rằng việc phát triển ở các khu vực rừng đầu nguồn đều phát sinh các vấn đề xã hội. Như đã đề cập ở trên việc gia tăng ô nhiễm nước sông Đồng Nai trong những thập niên vừa qua là do thiếu các hệ thống quản lý chất thải công nghiệp và sinh hoạt – chất thải chưa qua xử lý thường gây ô nhiễm môi trường tạo nên những vấn đề sức khoẻ lâu dài. Cũng cần lưu ý rằng các đập thuỷ điện không chỉ gây hại cho ĐDSH nó còn thường tạo ra những tác động về mặt xã hội. Ví dụ, các cộng đồng thường phải di dời và tái định cư. Một mặt họ mất nhà cửa và đất đai, họ còn mất những di sản văn hoá đặc trưng cũng như những thay đổi về tổ chức xã hội của cộng đồng. Điều này đưa đến một quan ngại lớn là khoảng 40 đến 80 triệu người sẽ phải tái định cư do việc xây dựng hệ thống đập dọc theo chi lưu cũng như dòng chính của sông Mê Kông trong tương lai. 

Phần Thảo luận của nhóm về các vấn đề xã hội

Liên quan đến quản lý lưu vực và rừng đầu nguồn, cần lưu ý rằng phần lớn người dân Việt Nam sinh sống ở đồng bằng Sông Hồng và Sông Mê Kông nơi có độ cao trung bình dưới 10 m so với mực nước biển.  Một số mô hình về biến đổi khí hậu dự đoán rằng trong những thập niên sắp tới mực nước biển có thể dâng cao đến 3m so với hiện tại, điều này sẽ gây ngập lụt phần lớn diện tích dẫn đến những tác động nghiêm trọng về mặt xã hội.

Cuối cùng, một số tranh luận cho rằng các cộng đồng sống trong hoặc gần kề các khu vực có rừng (bao gồm cả hệ thống rừng đặc dụng) của Việt Nam là những người dân tộc bản địa cần duy trì cuộc sống dựa vào tài nguyên rừng. Những thay đổi về luật và các quy định sử dụng đất yêu cầu những người này phải thay đổi lối sống của họ nhằm thích ứng với sự  thay đổi với sự hỗ trợ chưa thích đáng. Ngoài ra, nhiều người từ bên ngoài hiện đang can thiệp vào đời sống của những bản địa bằng cách khuyến khích họ tham gia vào các hoạt động trái pháp luật để có thêm lợi nhuận – điều này dẫn đến việc khai thác kiệt quệ và không bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên và sự suy thoái về môi trường trong thời gian dài ngăn cản sự tiếp tục lối sống truyền thống.

Các vấn đề về thể chế/chính sách

Một số vấn đề về thể chế và chính sách cũng được trình bày và thảo luận. Nhiều thỉnh nguyện khẩn thiết đã được nêu lên nhằm ngăn cản việc xây dựng quá nhiều các nhà máy thuỷ điện và nhu cầu nhằm bảo vệ các cộng đồng bản địa. Một số ý kiến đã chia sẻ các thông tin có thể trực tiếp phản ánh chính sách ở Việt Nam. Ví dụ,  các đồn điền cao su là một phần cảnh quan ở Việt Nam nhưng chúng ta biết rằng các đồn điền cao su này gây hại đến ĐDSH theo 3 cách: 1) giảm thiểu ĐDSH, 2) gia tăng tần suất xuất hiện các loài ngoại lai xâm nhập, và 3) khả năng tái sinh của các rừng tự nhiên bị mất đi. Với những thực tế này, chính phủ Việt Nam cần được tư vấn để giảm thiểu một cách mạnh mẽ việc chuyển đổi rừng tự nhiên thành các khu vực rừng trồng. Các thuyết trình viên cũng cho rằng, các nhà máy thuỷ điện có vẻ như được điều khiển bởi một số chính sách nhưng những chính sách này không liên quan một cách rõ ràng đến các chính sách quy định về việc tiếp cận tài nguyên nước, và cũng không liên kết chặt chẽ đến các chính sách quy định đến việc bảo vệ môi trường cũng như về nước sạch. Rõ ràng tình hình này cần đến một quy hoạch tổng hợp – với nhiều cơ quan chính phủ cần làm việc với nhau nhằm xây dựng các chính sách có sự nhìn nhận tính liên kết chặt chẽ một cách tự nhiên của các vấn đề này và nỗ lực quản lý chúng một cách hợp lý. Một số vấn đề chính sách cần bổ sung:

§  Luật liên quan đến ĐDSH cần được thực thi đầy đủ.

§  Luật liên quan đến bảo vệ môi trường cần được thực thi đầy đủ.

§  Nhu cầu của các cộng đồng địa phương cần được quan tâm đúng mức, điều này cũng quan trọng không kém sự phát triển kinh tế của các ngành, bao gồm cả các công ty tư nhân và quốc doanh trong lưu vực sông.

§  Việc quản lý rừng và lưu vực cần được phối hợp giữa các tỉnh và quốc gia trong lưu vực do các dòng sông chảy qua các ranh giới hành chính.

Các vấn đề về thể chế cũng tương tự:

Các cơ quan quản lý tài nguyên thiên nhiên cần cộng tác với các cơ quan quản lý xã hội. Đồng thời, những cơ quan quản lý cần có sự tương tác một cách hiệu quả với các tổ chức phát triển kinh tế. Rõ ràng là vấn đề này đúng cho cả các tổ chức chính phủ và phi chính phủ.

Phần thảo luận của nhóm Thể chế/ Chính sách

Một số thành công trong việc giải quyết các vấn đề ở tầm địa phương và khu vực cũng đã được trình bày. Ở quy mô khu vực, có nhiều bài học kinh nghiệm của các quốc gia châu Âu trong việc hợp tác quản lý rừng đầu nguồn và các lưu vực sông. Một ví dụ về quản lý nước và mùa vụ cũng được giới thiệu qua một đoạn phim ngắn. Tại địa phương, VQG Bidoup - Núi Bà là một điển hình trong việc hợp tác quản lý thành công với các cộng đồng địa phương trong việc chia sẻ trách nhiệm bảo tồn ĐDSH và duy trì đời sống người dân. Thông điệp chung xuyên suốt những bài học kinh nghiệm này là chúng có tính tổng hợp, nhìn nhận yếu tố môi trường tự nhiên và xã hội đan xen mật thiết và liên quan chặt chẽ với nhau. Để làm việc một cách hiệu quả với bất cứ thành phần nào trong phức hệ này đều cần thiết phải có sự cân nhắc kỹ càng những vấn đề tự nhiên và xã hội. Để mở rộng những thành công này nhất thiết phải có sự phối hợp giữa các nhà khoa học tự nhiên và xã hội và rất nhiều các thành phần liên quan khác bao gồm cả cộng đồng địa phương, các tổ chức địa phương, tỉnh và quốc gia, các công ty tư nhân và các tổ chức phi chính phủ khác, và cả những chính phủ các nước khác, đặc biệt khi làm việc với quản lý rừng đầu nguồn và lưu vực sông, nội dung chính của Hội thảo này.

Chuyến đi thực địa tại Trạm Kiểm lâm Giang Ly- Vườn Quốc gia Bidoup Núi Bà

Thảo luận nhóm.

Kết quả thảo luận nhóm được tóm tắt như sau:

I.         NHÓM MÔI TRƯỜNG XÃ HỘI

Vấn đề

Giải pháp

1.     Tác động của người ngoài vào cộng đồng

Quản lý địa chính tốt hơn

2.     Nghèo

-        Thiếu đất và vốn sản xuất

-        Điều kiện canh tác khó khăn

-        Đông con

-        Ỷ lại chính quyền

 

Hỗ trợ khuyến nông

Tăng hiệu quả sản xuất

3.     Thiếu sự tham gia trong qui hoạch và quản lý

Áp dụng đồng quản lý và quản lý hợp tác

4.     Tái định cư chưa phù hợp

 

Hạn chế tái định cư

Quan tâm đến văn hóa tập quán trong TĐC

5.     Thói quen sử dụng tài nguyên không bền vững và nhận thức bảo vệ tài nguyên thiên nhiên hạn chế

Giáo dục nâng cao nhận thức

 

6.     Thiếu cơ chế chia sẻ lợi ích

Thỏa thuận cơ chế chia sẻ lợi ích

Áp dụng PES

II.       NHÓM MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN

Vấn đề

Giải pháp

1.     Suy giảm đa dạng sinh học:

-        Săn bắn

-        Sinh cảnh bị chia cắt

Điều tra giám sát đa dạng sinh học

Cải thiện sinh kế các cộng đồng phụ thuộc rừng

2.     Suy thoái rừng

-        Cháy rừng

-        Phá rừng bừa bãi

-        Khai thác lâm sản trái phép

-        Sinh vật ngoại lai xâm hại

Tái trồng rừng dùng các loại cây bản địa

Giao rừng cho cộng đồng (có kiểm soát)

Thực hiện tốt hơn chính sách lâm nghiệp

Cần nhiều tiền hơn cho bảo vệ rừng

3.     Khai thác khoáng sản không có đánh giá tác động môi trường (ĐTM)

Thực thi pháp luật tốt hơn

Đưa ra quyết định có căn cứ khoa học

4.     Biến đổi khí hậu và vi khí hậu

Thay đổi chính sách

Thêm luật và qui định

Hỗ trợ nhiều hơn cho nghiên cứu khoa học

Phối hợp tốt hơn giữa các bên liên quan

5.     Suy giảm tài nguyên nước

Đầu tư nghiên cứu sử dụng tài nguyên nước bền vững

6.     Lạm dụng “du lịch sinh thái”

Sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên

7.     Hành vi con người không bền vững

Thay đổi hành vi con người

Nâng cao nhận thức của người dân và chính quyền

8.     Xây dựng đập thủy điện

Giảm số lượng dự án thủy điện

Qui hoạch tổng thể và thực hiện tốt

III.         NHÓM THỂ CHẾ - CHÍNH SÁCH

Vấn đề

Giải pháp

1.     Thiếu sự hợp tác giữa các vùng lãnh thổ và các ngành

-  Nâng cao sự minh bạch;

-   Rà soát hiệu quả những thỏa thuận hợp tác;

-   Xây dựng các cơ chế ở các vùng tiếp giáp;

-   Ủy ban lưu vực, MRC;

-   Cải thiện tính thực thi của các văn bản về hợp tác;

-   Tăng cường sự tham gia của các tổ chức PCP trong khu vực

2.     Năng lực trong việc xây dựng và thực thi chính sách kém

-   Đảm bảo kinh phí liên tục cho nâng cao năng lực trong xây dựng chính sách;

-   Các cơ quan nghiên cứu tham gia mạnh hơn trong việc xây dựng chính sách;

3.     Chia sẻ lợi ích không hợp lý trong quản lý tài nguyên (dân số, văn hóa, kiến thức bản địa)

-   Nghiên cứu đánh giá nhu cầu thứ tự ưu tiên được chia sẻ;

-   Tạo nguồn thu bền vững cho người được chia sẻ.

4.     Các luật và qui định hiện hành chồng chéo

-   Rà soát, điều chỉnh luật, chính sách.

5.     Thiếu quan tâm đến bản đồ trong chính sách nhà nước

-   Nâng cao quan trí;

-   Tăng cường đối thoại, phản biện xã hội;

-   Cung cấp thông tin.

6.     Sự tham gia của cộng đồng và giới trong xây dựng chính sách không đầy đủ

-        Nâng cao nhận thức, giáo dục cộng đồng;

-        Thành lập các nhóm truyền thông.

 

Kết quả của các nhóm thảo luận

Tổ chức cộng tác
  • Chương trình hợp tác Lâm sản ngoài gỗ Đông Nam Á
  • Viện sinh học nhiệt đới
  • Bảo tàng nhiệt đới
  • Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Giới thiệu theo yêu cầu
  • Tổ chức vì môi trường thế giới
  • Bảo vệ động vật hoang dã
  • Hành động vì môi trường
  • Bảo vệ động vật hoang dã
Phim
Allo-mothering
Forum
Updating...